Đọc Việt Lý Tố Nguyên có người cho là lơ mơ không nói lên được gì xác định. Ngược lại có người tìm đến tận nhà tỏ vẻ bực tức vì những chữ “rất có thể”: “Mị nương rất có thể do Mễ nàng đọc trại ra” v.v… Tôi cũng công nhận là lơ mơ, nhưng đó là điều cổ ý, kiểu những họa sĩ ưa lối Mê hơn lối chu, và nên biết rằng những bức lơ mơ, như bức “viễn phổ qui phàm” trong bộ “Tiêu tương bát cảnh” của Mục Khê thì không còn gì lơ mơ bằng, vậy nhưng trên thế giới này không thể tìm được bức tranh nào giầu chất siêu hình hơn.
Nét Lưỡng hợp ( hay nét Lưỡng nhất ) là sợi chỉ xuyên suốt nền văn hoá Việt ( hay là mối nhất quán ), ta có thể tìm thấy trong 5 điển chương Việt: Huyền sử, Làng xã, Việt Dịch , Trống đồng và Trung dung
Nhân đọc bài “ Khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà Trường . . . “ của Khải Nguyên trên An Việt toàn cầu, xin được trích một đoạn như sau: “ Ít lâu nay, một số người đặt vấn đề cần phải dạy chữ Hán trong trường phổ thông. Mới đây, báoTuổi Trẻ cuối tuần số 25/2010 (ra ngày 27-6-2010) có bài “Cần khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường”(*). Bài báo nêu lên tình trạng dùng tiếng Việt sai “khủng khiếp” trên các phương tiện thông tin đại chúng nước ta hiện nay, và ngay cả với nhiếu sinh viên ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng vậy (không ít trong số này sẽ là người viết văn, viết báo, biên tập viên,... ).
Cách cư xử của người Trung Hoa mặc nhiên thể hiện tâm thức hướng Nam, hình thành văn hóa Sùng Nam do người Bách Việt lưu lại. Người Hoa có địa bàn gốc tổ ở phía Tây bắc, trong khi người Việt có địa bàn gốc tổ ở phương Nam thì việc trọng hướng Nam trong văn hóa Trung Hoa là điều khiến cho ta phải suy nghĩ ? Tại sao lại có hiện tượng đó ? Tại sao trong chữ nam lại có chữ hạnh, còn chữ Bắc lại đồng nghĩa với thất bại? Tại sao Bắc lại là (phản) bội ? Nếu họ đã miệt thị dân phương nam là man di mọi rợ thì tại sao trong cách cấu tạo chữ lại thể hiện tình thần trọng Nam khinh Bắc? Tại sao khi vẽ đồ hình Tiên Thiên và Hậu Thiên của Dịch họ lại cho hướng Nam lên trên, hướng Bắc nằm dưới hình thành chủ nghĩa Nam tôn Bắc ti,Nam tôn Nữ ti.
Huyền thoại Việt là một thể loại văn hóa đặc biệt của tộc Việt mang tính siêu việt: Nếu gọi Dịch là một kỳ thư thì có thể nói Huyền thoại là Kinh Dịch bằng lời! Đây là thể loại văn hóa của Minh Triết, giúp ta trực kiến sự vật, sự việc thay vì nói về sự vật và sự việc như các thể loại văn hóa khác. Có thể nói không sai là: trong khắp cùng các nền văn hóa của nhân loại không thể tìm đâu ra thể loại huyền thoại tương tự. Thật thế, đây là một là thể loại văn hóa “ngôn bất ngôn”: Ngôn từ được sử dụng mang lấy tính “cưỡng dụng”, “tạm dụng” (Lão Tử). Tại sao nói thế ? Thưa vì: Ngôn ngữ huyền thoại không nhằm chuyển tải ý niệm mà nhằm gợi ý tượng hình và tượng ý, thế nên muốn “đọc” huyền thoại Việt phải đọc theo lối dẫn riêng để thông qua đó giúp ta giải mã và hiểu được ý nghĩa của huyền thoại
MINH TRIẾT là Đạo Lý và Đạo Lý là con đường tự nó chưng ra chứ không là cái mà dùng ngôn ngữ để nói về nó. Trong ý nầy, bài viết chủ yếu sẽ dựa vào loại ngôn ngữ đặc thù là “triết tự” hay “Đạo tự” và một số đồ hình của nền văn hóa nầy mà luận sự, vì thế, nên xem lời được sử dụng ở đây là “tạm dụng” cần phải “bỏ lời” (1) để đi thẳng vào Đạo, ngõ hầu nhận ra Minh Triết. Đây là điều cần thưa trước, trước khi qua các tiểu mục:
“Hà xuất đồ; lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”
Trong Chu Dịch; duy nhất chỉ có một dòng như vậy nói đến Hà Đồ. Tính mơ hồ của nó đã sinh ra bao truyền thuyết thần kỳ. Cho đến tận bây giờ; thực chất Đồ thư là cái gì chưa thấy ai bàn được rốt ráo. Đã có hẳn một môn “Hà đồ học” với hàng trăm đầu sách viết về Hà Đồ; nhưng Đồ Thư vẫn là những đồ hình bí ẩn.
Loạt bài này tóm tắt các suy nghĩ về phương pháp giải quyết vấn đề (viết tắt là ppgq, problem solving) và Tứ Diệu Đề (viết tắt là tdđ, the Four Noble Truths) - nói cách khác hơn là suy nghĩ về tư duy (think of thinking). Nội dung các phần sau dựa nhiều vào kinh nghiệm kỹ thuật, ngôn ngữ, giáo dục (sư phạm) và nhất là từ sự quan sát và suy nghĩ cá nhân qua những hoạt động hàng ngày
Văn hóa cổ Việt và văn hóa cổ của các tộc thổ dân Mỹ châu có gốc từ ven biển Á châu và Đông Nam Á sang châu Mỹ có sự tương đồng qua mẫu số chung Vũ Trụ giáo. Như thế ta có thể dùng văn hóa cổ Việt để giải đọc văn hóa cổ các thổ dân Mỹ châu và ngược lại.
Trong Hoa ngữ số 2 còn gọi là ƠN hay ÔN và biến âm thành an,ân,yên,anh ... tiếng Việt là ấm nên triều Hùng Hy còn được gọi là Hùng Anh vua khai sáng là Viêm lang, các từ : hy-hai, anh-ấm, viêm-nhiệt ,ly –lai đều liên quan tới chữ LỬA chỉ vùng nhiệt đới-xích đạo tức phương bắc của Hà thư, đất ở đấy tên là đất Đào và khi trung tâm quốc gia ở đất Đào thì quốc hiệu nước ta là Hồng bang ( đào-hồng-xích cùng nghĩa là màu đỏ ), tất cả các từ dùng cho triều Hùng Hy đều là các đặc tính của quẻ LY như : lửa,sáng , nóng bức, màu đỏ.v.v.; người Hời ngày nay là con cháu chính dòng Hùng Hy.; quốc gia lập trên đất ấy thời xuân thu- chiến quốc là nước Yên, cổ sử trung hoa thường gọi con cháu Hùng Hy là người Di-lão, từ lão ta đã biết còn Di chỉ là biến âm của chữ nhị-nhì hay số 2 mà thôi, loài thú làm biểu tượng dân tộc là con HỔ, hổ cũng chỉ là biến âm của chữ hoả nghĩa là lửa đúng theo điểu thú văn mà ta đ̣ã từng nói đến.
Chữ Quốc ngữ, dùng mẫu tự La Tinh ghi âm tiếng Việt Nam, do các giáo sĩ Tây Phương và những người Việt hợp tác sáng chế ra từ đầu thế kỷ XVII, nhưng suốt một thời gian dài gần ba trăm năm nó chỉ được lưu hành trong phạm vi nhà thờ để truyền giáo, mãi cho đến đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ mới được phổ biến rộng rãi và được dùng làm văn tự chính thức thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm.
Hai anh em người Việt Nam vừa đoạt Giải thưởng phát minh Eureka 2010 do Tổ chức Khoa học và Công nghệ quốc phòng của Australia tài trợ. Hai nhà khoa học trẻ, Giáo sư-Tiến sĩ Võ Bá Ngự và em trai là Giáo sư-Tiến sĩ Võ Bá Tường, của Trường Điện, Điện tử, và Điện toán thuộc Đại học Tây Australia được vinh danh vì đã phát triển cách tiếp cận mới về giải thuật theo dõi, cho phép theo dõi cùng lúc nhiều mục tiêu với công suất máy tính thấp, một phát minh độc đáo hỗ trợ quốc phòng, an ninh quốc gia, và có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực dân sự khác.
Chúng tôi đã chứng minh cho quí vị độc giả rằng, người Việt cổ chúng ta đã biết lấy các tổ hợp hai, ba và sáu lớp những con nòng nọc. Thật ra khó có thể nói và cũng chưa có những chứng cứ cụ thể cho việc lấy tổ hợp 4, 5 hay lớn hơn 6 lớp của hai Nghi. Cũng như không có chứng minh ngược lại. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng, người xưa đã biết lấy tổ hợp bao nhiêu lớp cũng được. Quan trọng khi khắc lên các cổ vật tối cần thiết nhất là họ cần những tổ hợp nào. Nói đến Kinh Dịch (hay Diệc) thì nhu cầu cần thiết chỉ là 2, 3 và 6 lớp mà thôi.
Trường đại học Harvard năm nay lại tiếp tục dẫn đầu trong danh sách bình chọn trường đại học tốt nhất Hoa Kỳ của U.S. News.
Và với 62 cựu sinh viên của trường hiện đã trở thành các tỷ phú, mới đây, Harvard cũng đứng đầu danh sách các trường đại học đào tạo ra được nhiều tỷ phú nhất nước Mỹ do tạp chí Forbes bình chọn.
Nhân mùa tựu trường tháng 8 năm nay, hai cô gái gốc Việt đã từng học tập ở trường đại học Harvard sẽ cùng chia sẻ với quí vị những điều họ đã trải nghiệm và bài học lớn nhất mà họ học được từ ngôi trường danh tiếng này.
Ăn chay đang trở thành một trào lưu trên thế giới, nhất là trong giới trí thức và chuyên gia. Ở các nước phương Tây, theo một thống kê chưa đầy đủ, có khoảng 5% dân số Anh và Mĩ cho biết họ ăn chay trường hay ăn chay thường xuyên. Ở nước ta, tuy chưa có số liệu chính thức, nhưng sự có mặt của các nhà hàng và quán ăn chay cùng lượng thực khách đông đảo cho thấy số người ăn chay đang tăng dần trong thời gian gần đây.
Những ngọn pháo bông nở rộ muôn màu ,sáng rực trời đêm thị trấn nhỏ miền Đông Bắc.Tôi mỉn cười nhủ thầm : pháo bông mừng lễ hay chào đón ta bước vào cuộc sống mới nơi ‘Thiên đàng hạ giới “ ? Thiên đàng hạ giới,tôi nhớ hình như câu nói này mới chỉ phát xuất nơi cửa miệng người dân sau khi Cộng Sản Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam năm 1975 – chúng ồ ạt như một bọn cường khấu vội vã ‘vào,vơ vét ,về ‘- phút chốc biến người dân trở thành ‘ chuyên chính vô sản ‘ thật đúng nghĩa !
Con người có cái mặt là quan trọng nhứt. Thật vậy, nếu lấy cái mặt bỏ đi, tất cả những gì còn lại trên thân thể sẽ không dùng vào đâu được hết và cũng không còn tồn tại được nữa. Không có mũi để thở, không có miệng để ăn… con người không có cái mặt là kể như “tiêu tùng”!
Trước khi “đào sâu” cái mặt, xin mở dấu ngoặc ở đây để “vinh danh” tiếng Việt: phần lớn những gì nằm trên cái mặt đều bắt đầu bằng chữ “m”, trên thế giới chưa có thứ tiếng nào như vậy hết!